Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026)

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026)

BÀI 1. THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ NHỮNG CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU

1. Thân thế, sự nghiệp

Lê Quý Đôn, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Cha Ông và cha vợ đều là Tiến sĩ, làm quan trong triều.

Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã được gọi là “thần đồng”, nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tuyệt vời lại ham học hỏi; năm 5 tuổi đã có thể đọc nhiều bài thơ trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, Lê Quý Đôn đã thông thạo kinh điển Nho học; năm 17 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội; năm 26 tuổi, đỗ đầu thi Đình.

Sau khi đỗ Bảng nhãn, từ năm 1752 Lê Quý Đôn bắt đầu bước vào sự nghiệp quan trường và giữ nhiều chức vụ quan trọng của Triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm viện thừa chỉ sung Toản tu Quốc sử quán (1754); Hàn lâm viện thị giảng (1757); năm 1760 và 1762 được cử đi sứ sang nhà Thanh; Đốc đồng xứ Kinh Bắc (1764); Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc Tử giám (1767); Tán lí quân vụ, Thị phó đô ngự sử (1768); Công bộ thượng thư (1769); Bồi tụng (1773); Lại bộ tả thị lang kiêm Tổng tài Quốc sử quán (1775); Hiệp trấn tham tán quân cơ trấn phủ Thuận Hóa (1776); Hiệp trấn Nghệ An (1783); Công bộ thượng thư (1784)…

Trong bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII nhiều bất ổn, các cuộc tranh đoạt quyền lực giữa các thế lực cầm quyền diễn ra ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, đời sống người dân điêu đứng, mâu thuẫn giữa Nhân dân và tầng lớp cầm quyền ngày càng nặng nề, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục…; với hoài bão kinh bang tế thế, Lê Quý Đôn luôn mong muốn thi hành những cải cách, thiết định những pháp chế nhằm lập lại trật tự đất nước ổn định, thịnh trị, Nhân dân được vui hưởng thái bình. Do vậy, dù ở vị trí nào Ông cũng thể hiện là một vị quan tài năng, mẫn cán, thanh liêm, luôn gần gũi Nhân dân, luôn muốn cải thiện và đem lại cuộc sống ấm no hơn cho người dân bằng những hành động thiết thực.

Năm 1784, Ông lâm bệnh nặng, xin về quê ngoại Duy Tiên, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) an dưỡng và qua đời sau đó không lâu; Vua cho bãi triều ba ngày để tang Ông.

2. Các công trình tiêu biểu

2.1. Về lịch sử, địa lý

Đại Việt thông sử (Lê triều thông sử), 30 quyển, năm soạn: 1749-1753.

Phủ biên tạp lục, 6 quyển, năm soạn: 1776.

Bắc sử thông lục, 4 quyển, năm soạn: 1763, viết lời tựa năm 1780.

Kiến văn tiểu lục, 12 quyển, năm soạn: 1777.

2.2. Khảo cứu, diễn nghĩa, chú giải, bàn giảng các kinh điển, cổ thư

Âm chất văn chú, 2 quyển, năm soạn: 1781-1782.

Tứ thư ước giải (Tứ thư giải thích), 5 quyển (khắc in năm 1839),

Quần thư khảo biện, 4 quyển, năm soạn: 1757-1761

Thánh mô hiền phạm lục, 12 quyển, năm soạn: 1759

Vân đài loại ngữ, 4 quyển, năm soạn: 1773

Thư kinh diễn nghĩa, 3 quyển, năm soạn: 1772

2.3. Sưu tập thi ca

Toàn Việt thi lục, 20 quyển, năm soạn: 1768

Hoàng Việt văn hải, 10 quyển.

2.4. Thơ văn sáng tác

Quế Đường thi tập, tổng tập thơ gồm 550 bài thơ chữ Hán.

Văn thơ viết bằng chữ Nôm: Lê Quý Đôn tiên phong sử dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính, trở thành một trong những người viết ký bằng văn xuôi Nôm sớm nhất của Đại Việt qua bài Khải được lưu lại trong cuốn Bắc sử thông lục.

Bài Răn đầu biếng học, thể thơ “thất ngôn bát cú”.

Bài Mẹ ơi con muốn lấy chồng, thể văn “kinh nghĩa” dùng trong thi cử.

Bài Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng, thể văn “kinh nghĩa”.

Bài Lấy chồng cho đáng tấm chồng, thể “văn sách” dùng trong thi cử.

Lan Hương - TTDVTH xã Vũ Quý
Phòng VHXH

Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử






Gửi đánh giá Xem kết quả
20 người đang online